ProjectsMembersNewsResourcesLinksForumsTiếng Việt
Tran Phuc Toan Architecture & Associates
Add: R.503 CT-5D Me Tri Ha, Tu Liem, Hanoi, Vietnam
Tel: +844-3787-7025 - Fax: +844-3787-7025 - Email: info@tpta.vn

Những vấn đề xã hội cần quan tâm khi thiết kế nhà cao tầng ở Việt Nam

01-07-2008

Nhà chung cư không bao giờ ế, sản xuất ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Điều này gây ngộ nhận cho giới lãnh đạo rằng nhà chung cư đã đáp ứng được nhu cầu xã hội, góp phần ổn định quỹ nhà ở cho TP. Nhưng sự thực thì các căn hộ chung cư từ cao cấp đến bình dân không đến đ?ợc tay ng?ời có nhu cầu thực sự mà chỉ ở một số ng?ời giàu có nhiều tiền mua để kinh doanh, hay cò nhà mua đi bán lại, có khi đơn giản chỉ là thừa tiền mua để đó. Hiện t?ợng có ng?ời có dăm ba căn hộ chung c? là bình th?ờng và những ng?ời có nhu cầu thực phải mua lại sau hai, ba tay cũng là rất bình th?ờng. Ngộ nhận này dẫn đến một tai hại là coi chính sách nhà ở hiện thời đang phát triển đúng h?ớng, trong khi nó có quá nhiều điều phải xem lại.

1 - Ngộ nhận sai lầm.

Nhà chung c? không bao giờ ế, sản xuất ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Điều này gây ngộ nhận cho giới lãnh đạo rằng nhà chung c? đã đáp ứng đ?ợc nhu cầu xã hội, góp phần ổn định quỹ nhà ở cho TP. Nh?ng sự thực thì các căn hộ chung c? từ cao cấp đến bình dân không đến đ?ợc tay ng?ời có nhu cầu thực sự mà chỉ ở một số ng?ời giàu có nhiều tiền mua để kinh doanh, hay cò nhà mua đi bán lại, có khi đơn giản chỉ là thừa tiền mua để đó. Hiện t?ợng có ng?ời có dăm ba căn hộ chung c? là bình th?ờng và những ng?ời có nhu cầu thực phải mua lại sau hai, ba tay cũng là rất bình th?ờng. Ngộ nhận này dẫn đến một tai hại là coi chính sách nhà ở hiện thời đang phát triển đúng h?ớng, trong khi nó có quá nhiều điều phải xem lại.

 



2 - Nhà chung c? cao tầng giá thành rẻ. Nhà chung c? là sản phẩm của xã hội hiện đại, công nghệ kỹ thuật làm ra nó rất hiện đại, cũng nh? vật liệu xây dựng phải hiện đại không hề rẻ. Do vậy, quan niệm nhà CCCT làm cho ng?ời có thu nhập thấp, có chất l?ợng thấp để giảm giá thành là một sai lầm nghiêm trọng. Nhà cao 12 - 15 tầng mà đi thang bộ, sử dụng xi măng mác thấp, thép tái chế, bớt xén vật liệu thì thật ngớ ngẩn. Đó chỉ là một cách tự sát theo cả nghĩa kinh doanh lẫn nghĩa đen. Các nhà thầu làm nhà CCCT có chất l?ợng (dù chỉ ở mức trung bình) cho ng?ời có thu nhập thấp chắc chắn không thể thu hồi vốn đ?ợc. Do vậy, Chính phủ phải hỗ trợ cho họ từ việc miễn giảm thuế đất, đến ?u đãi vay vốn lãi suất thấp và dài hạn để sản xuất ra các chung c? có chất l?ợng. Chính phủ sẽ không lỗ nếu đ?a vào hạch toán kinh tế  xã hội các lợi ích khác từ việc tiết kiệm đ?ợc đất, môi tr?ờng trong sạch, quản lý tốt dân số, trật tự xã hội, giảm tội phạm và những lợi ích vô hình khác mà không thấy tr?ớc mắt nh? sức khỏe ng?ời dân, thuận lợi giao thông, cảnh quan môi tr?ờng. Những lợi ích thu đ?ợc từ việc đầu t? tập trung dẫn đến lợi nhuận cao từ các dịch vụ khác nh? chợ, siêu thị, y tế, giáo dục, kể cả việc nhà n?ớc thu đ?ợc nhiều thuế từ các loại dịch vụ t? nhân cũng cần phải đ?ợc tính đến.

 



3 - Chung c? nên là sản phẩm đa dạng và linh hoạt. CCCT tuy là sản phẩm của công nghệ và kỹ thuật tân tiến, nh?ng cũng cần có sự đa dạng về chủng loại và đối t?ợng thụ h?ởng. Có chung c? cho ng?ời giàu, ng?ời trung l?u, ng?ời thu nhập thấp và có chung c? cho hộ gia đình và cả ng?ời độc thân. Có một bộ phận khá lớn dân c? thành phố có nhu cầu sống trong các chung c?, và có thể khẳng định rằng CCCT là dành cho họ, nh?ng tiếc thay họ không bao giờ với tay tới đ?ợc trong tình trạng hiện nay. Đó là các công chức trẻ. Trong các cuộc nghiên cứu mới đây nhất của chúng tôi cho thấy nếu các căn hộ chung c? thiết kế nhỏ hơn chừng 24 - 32m2 với giá cả từ 200 đến 250 triệu thì có thể 70 - 80% những công chức, trí thức độc thân, các cặp vợ chồng trẻ có thể sở hữu đ?ợc. 10 năm sau đó khi kinh tế khá lên họ có thể hoán chuyển đ?ợc sang các căn hộ rộng lớn và căn hộ nho nhỏ xinh xinh đó để lại cho ng?ời khác. Các căn hộ chung c? hiện nay có diện tích đều từ 60m2 trở lên đến trên 140m2 với giá thấp nhất là 600 - 700 triệu, nhiều là hàng tỷ đồng, thật quá xa vời với công chức trẻ. Nhà chung c? cho ng?ời độc thân, cho các cặp vợ chồng trẻ là một hiện thực mà các nhà thầu có thể đón đ?ợc. Điều này không mới ở
Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc, còn ở Việt Nam hình nh? ch?a ai tính đến.

 

4 - 100% chủ nhà sau khi nhận nhà đều  thay đổi cấu trúc, thay đổi công năng, thực hiện sửa chữa lớn nhỏ. Chúng tôi nhận thấy ít nhất có 4 hạng mục sau đây chắc chắn đ?ợc chủ nhà bổ xung mới hoặc thay đổi:

ã  Bàn thờ gia tiên, bệ đặt bàn thờ ông địa

ã  Bếp, phòng ăn

ã  Phòng học cho con

ã  Phòng khách

ã  Cửa ra vào



Sự thay đổi này tuỳ thuộc vào một số yếu tố sau đây:

 

Nghề nghiệp:  đối với ng?ời nghèo thì nhà ở chủ yếu là nơi sản xuất hàng thủ công, là gia công hàng cho các cơ sở sản xuất khác, để chứa vật liệu và hàng hóa thành phẩm hay bán thành phẩm, nhiều hộ sử dụng nhà để bán hàng tạp hóa. Có thể đến 100% nhà nghèo sau khi nhận nhà chung c? với diện tích nhỏ (không có tiền mua diện tích lớn hơn) đều làm gác xép (mezzanine) để ngủ. Với họ phòng khách không có nhiều ý nghĩa. Đối với các công chức, trí thức thì phòng khách và phòng học cho con th?ờng chiếm một vị trí rất quan trọng.

 

Dân tộc:  Đối với ng?ời Hoa màu sơn nhà th?ờng đ?ợc thay đổi ngay sau đó. Họ sử dụng màu thiên về đỏ, con ng?ời Việt thích màu trung tính hơn (xanh, hồng phấn nhẹ). Ng?ời Chăm chắc chắn sẽ dành phòng lớn nhất cho phụ nữ (họ theo chế độ mẫu hệ). Ng?ời Việt (kinh) nào cũng có xu h?ớng tối đa hóa nơi ở bằng các kiểu lấn chiếm không gian nh? cơi nới, làm thêm chuồng gà phía ngoài cửa sổ, biến một phần ban công chung hoặc toàn bộ hành lang sau thành sở hữu riêng.

 

Tôn giáo:  ng?ời Việt, ng?ời Hoa theo Phật giáo hay Thiên Chúa Giáo đều dành phần trang trọng nhất cho nơi thờ cúng gia tiên, thờ đức mẹ. Phần này nếu nhà đơn lập nhiều tầng sẽ đ?ợc bố trí nằm ở tầng áp mái, còn nhà chung c? nằm ngay ở phần chính diện cửa ra vào hay trên gác xép. Ng?ời theo đạo Hồi luôn có ý thức tạo ra sắc thái văn hóa của riêng họ ngay trong nhà trệt hay ở chung c?. Chủ nhà bao giờ cũng thay đổi hình dạng cửa sổ và cửa ra vào bằng cách hoặc là thêm vào phần trên của cửa có sẵn (có khi làm mới hoàn toàn) một hình mái vòm có chóp nhọn mô phỏng mái vòm của thánh đ?ờng hồi giáo, hoặc là đắp thêm gờ nổi bằng xi măng tạo ra hình mái vòm chóp nhọn. Họ có ý thức tạo ra một góc riêng trong nhà làm nơi cầu nguyện, ở đó th?ờng có một hốc lõm đục sâu vào bức t?ờng cầu nguyện có dạng hình vòm chóp nhọn ở vị trí cao hơn thân hình đứng của ng?ời đã tr?ởng thành, những biểu t?ợng thiêng liêng đ?ợc gắn ở mặt t?ờng tr?ớc nhà hay trong chính diện phòng khách nh? các dòng chữ ả Rập đắp nổi lấy ra từ kinh Quran, các hình ngôi sao với vành trăng khuyết, các hoạ tiết dây leo đ?ợc ng?ời theo đạo Hồi sử dụng trong nội thất.

 

 

Niềm tin tâm linh:  Gần nh? tất cả ng?ời Việt đều có những tín điều liên quan nào đó đến nơi ở. Niềm tin có vẻ khoa học nh? tin vào thuật phong thủy, nh?ng cũng có những niềm tin cực kỳ mơ hồ về bùa chú, kính chiếu yêu. Chính niềm tin tâm linh này cũng góp phần tác động đến thay đổi cấu trúc nhà nh? làm lại cửa ra vào, bố trí lại bếp, thêm hay bớt số bậc của cầu thang. Điều này diễn ra phổ biến ở cộng đồng ng?ời Hoa, ng?ời Kinh.

 

Nhận thức rõ đ?ợc điều này, các nhà xây dựng có thể kết hợp với ý t?ởng của chủ nhà trong quá trình hoàn thiện các căn hộ. Kết quả khảo sát d?ới đây đ?ợc thực hiện năm 2002 về cách thức chọn hợp đồng giữa ng?ời dân và chủ đầu t? rất đáng để cho các nhà làm chính sách suy nghĩ và rút kinh nghiệm:

 

5- Không gian cộng đồng quan trọng hơn không gian công cộng trong môi tr?ờng sống của ng?ời Việt tại các chung c?. Một trong các giá trị xã hội quan trọng nhất của ng?ời việt Nam là quan hệ cộng đồng. Ng?ời Việt Nam có tính “bầy đàn” cao, sống ở gần nhau, nhìn thấy nhau, chia sẻ với nhau khi vui cũng nh? khi buồn. Một số khu ở cao cấp tại TP. HCM hiện nay lấy mẫu hình của châu Âu rất hiện đại, nhà nào cũng có khoảng xanh rộng, khu ở nào cũng có công viên v?ờn dạo, đ?ờng rộng thênh thang, khoảng cách giữa hai block nhà rất rộng. Nh?ng ng?ời ở chủ yếu là ng?ời n?ớc ngoài, ng?ời Việt Nam rất ít (không phải vì lý do kinh tế). Vấn đề là ở chỗ không gian rỗng, không gian mở và không gian xanh nhiều nh?ng lại lạnh, không tỏa ra đ?ợc “hơi ấm cộng đồng”, buổi tối vắng teo và buồn tẻ, không có các dịch vụ nhộn nhịp đời th?ờng. Ng?ời dân sống ở các khu dân c? truyền thống, các hẻm nhỏ tuy có khó khăn, thiếu công viên nh?ng bù lại họ có thể mua đ?ợc tất cả những gì họ muốn từ cây kim, sợi chỉ, cái đinh đến bát mì gõ. Họ không cảm thấy lạnh l?ng, hở s?ờn khi đau ốm, hữu sự. Ch?a kể là ở các khu dân c? cũ, các cơ sở vật chất liên quan đến tâm linh nh? chùa, nhà thờ, thánh thất luôn hiện hữu trong đời sống th?ờng nhật. Nhiều không gian xanh, không gian công cộng là tốt nh?ng không đ?ợc quên không gian cộng đồng, cần kết hợp chúng lại với nhau. Các CCCT không nên quá xa nhau tạo ra thế độc lập yên tĩnh tuyệt đối, giảm bớt diện tích để dành cho các hoạt động cộng đồng thì tốt hơn. Điều này giải thích tại sao các chung c? gần nhau dễ bán hơn, các biệt thự có sân v?ờn mở giữa các nhà không quá lớn của Nam Long đắt khách, tại sao các biệt thự của Pháp ở Đà Lạt khó bán vì chúng ở cách nhau quá xa, khoảng cách địa lý có mối quan hệ với khoảng cách xã hội. Đảm bảo đ?ợc cả hai không gian công cộng và không gian cộng đồng là tốt, nh?ng nếu buộc phải lựa chọn một trong hai thì hình nh? ng?ời Việt Nam thiên về không gian cộng đồng hơn.

 

6 - Khắc phục hội chứng “sợ chiều cao”  và “cô đơn”. Một số nghiên cứu của các nhà tâm lý học đô thị của Đức, áo cho thấy trẻ con sống ở nhà cao tầng th?ờng có tâm lý sợ chiều cao, lúc nào chúng cũng thấy chống chếnh, thiếu tự tin, không dám nhìn xuống đất, không mạnh dạn khi chạy nhảy, lúc nào cũng chỉ muốn ở trong nhà, rất sợ ra hành lang. Thực tế này cũng xuất hiện ở cả ng?ời lớn, nhất là đối với trẻ em Việt Nam ch?a bao giờ có thói quen ở nhà cao tầng.

 

Do cấu trúc các căn hộ ở chung c? là khép kín, dịch vụ khá hoàn hảo, mọi ng?ời không cần bất cứ khoảng không gian cộng sinh nào cũng sinh sống bình th?ờng. Tất cả các hộ gia đình khi đóng cửa lại tạo ra một thế giới riêng biệt và hoàn toàn độc lập. Hình thái này làm cho cá nhân thấy tự do, độc lập, nh?ng lại th?ờng tạo ra tâm lý cô đơn, lạnh lẽo và “ớn lạnh”  khi ở một mình. Tâm lý này càng trở nên nặng nề và ám ảnh th?ờng trực khi mà cá nhân hay hộ gia đình sống trong một chung c? toàn ng?ời lạ ở một đất n?ớc khác và với một cộng đồng khác. Đối với hầu hết phụ nữ độc thân sống trong các chung c?, cảm giác “cô độc” và “stress”  là những trạng thái th?ờng xuyên ngự trị trong tâm thức. Để khắc phục tình trạng này các nhà nghiên cứu đề xuất một vài điểm l?u ý sau đây:  

 

Không nên để tầm mắt rơi tự do từ trên cao xuống quá nhanh bằng cách tạo ra những vật cản thị giác ở đối diện hay ở gần đâu đó nh? hình ảnh các giật cấp của các khối nhà đối diện, ban công làm rộng hơn tạo ra mặt bằng vững chãi, thiết lập cầu nối thông giữa các toà nhà cao tầng ở gần nhau làm cho chiều cao bị giảm đi một nửa hay một phần ba, sử dụng các các mảng màu tạo ảo giác gần gũi chuyển tiếp. Sự rơi quá nhanh của thị giác làm cho ng?ời ta bị chóng mặt, sock tâm lý và sợ hãi khi liên t?ởng đến sự rơi của cơ thể.

 



Tạo ra các không gian xanh, không gian cộng cộng, không gian cộng đồng ở trên tầng cao. Từ tr?ớc tới nay các chủ đầu t?, các nhà thầu th?ờng chỉ chú ý đến các công trình trên mặt đất, việc tạo ra các công trình cộng cộng trên cao không đ?ợc chú ý vì nh? thế sẽ làm giảm lợi nhuận. Nh?ng thực tế cho thấy việc tạo ra các không gian xanh, không gian công cộng trên cao bằng cách đục rỗng một, hai tầng lầu theo tỷ lệ tổng số tầng nhất định để làm công viên kết hợp với quán coffee, trà đạo, th? quán, kem, spa, sauna, các minishop mang lại hiệu  quả kinh doanh lũy tiến cao hơn. Việc sử dụng các sân th?ợng của các căn hộ nhô ra theo hình thái giật cấp hay tạo ra cầu cạn nối thông các toà nhà gần nhau làm thành nơi giao tiếp công cộng, th? giãn có cây xanh, ghế đá, quán giải khát nhẹ cần phải đ?ợc khuyến khích. Tất cả các động thái này sẽ làm cho đời sống CCCT bớt lạnh lùng, sinh động hơn và ấm áp tình ng?ời hơn.

 

7 - Cho phép sở hữu một phần không gian tr?ớc cửa cho các hộ kinh doanh nhỏ ở các chung c? bình dân.

Có một thực tế là khá nhiều các hộ gia đình sống trong các chung c? bình dân (khái niệm chỉ thu nhập và việc làm) sử dụng hành lang, đ?ờng đi trong chung c? để mở cửa hàng buôn bán tạp hóa, bán rau, hoa quả và bán giải khát, kể cả bán đồ nhậu. Việc dẹp bỏ là rất khó và d?ờng nh? là không thể làm đ?ợc, bởi vì ng?ời mua và bán đều có nhu cầu. Dân sống trong chung c? bình dân không khoái mua hàng trong siêu thị mà thích mua ở các quầy hàng gia đình nho nhỏ. Ng?ời mua có thể mua chịu, mua rẻ hơn chút đỉnh và không đòi hỏi cao vào mẫu mã bao bì hay chất l?ợng. Ban quản lý chung c? có thể cho họ khai thác hành lang tr?ớc nhà theo một số thời gian nhất định (ví dụ sau giờ tan ca đi làm về), các hộ gia đình này phải tuân thủ một số qui ?ớc nh? đảm bảo vệ sinh, không gây trở ngại việc đi lại, nộp một khoản lệ phí cho ban quản lý chung c? góp thêm vào quỹ an ninh, duy tu máy bơm, ánh sáng...

 

8 - Trong khi tạo dựng không gian c? trú nên chú ý đến các công trình tôn giáo.

Trong khi phát triển các khu chung c? mới ở các quận đô thị hóa mới, có một tình trạng là các nhà chức trách cũng nh? các nhà thầu không quan tâm đến các cơ sở tôn giáo. Các khu dân c? mới không hề có đất dành cho xây nhà thờ, chùa, thánh thất, trong khi nhu cầu này là có thật. Chúng tôi đã làm việc với giáo hội Phật giáo TP. HCM, với các ban trị sự của hội thánh Tin Lành, Thiên Chúa Giáo đều nhận đ?ợc sự phản hồi về nhu cầu có thực này và sự đảm bảo về nguồn tài chính huy động trong nhân dân trong việc xây dựng các công trình công cộng của tôn giáo.

 

9 - Chấp nhận các giai đoạn quá độ của tiến trình phát triển chung c? qua 4 giai đoạn, tránh tâm lý nóng vội. Giống nh? bất cứ tiến trình phát triển nào của đô thị (dân số, kinh tế, xã hội), nhà ở đô thị cũng trải qua một số giai đoạn, chúng ta phải chấp nhận nó nh? một sự tất yếu. Mọi sự nóng vội đốt cháy hay bỏ qua một giai đoạn nào đều có thể đ?a đến các hệ quả bất lợi.

 

Qui luật phát triển của nhà ở chung c? đô thị diễn ra theo 4 giai đoạn sau đây:

 

Giai đoạn thứ nhất là các chính phủ chú trọng việc làm sao có nhà chung c? thay thế cho nhà tạm và vận động ng?ời dân chấp nhận nhà chung c? nh? một giải pháp tình thế trong tình trạng khan hiếm nhà và giải tỏa bớt sức ép lên vùng trung tâm đô thị.

 

Giai đoạn thứ hai là làm sao cho chung c? hiện đại hơn. Ng?ời dân thấy ở nhà thuận tiện, văn minh, thoải mái, tức là tập trung chủ yếu vào trang thiết bị nội thất (interior) và tổ chức các tiểu không gian trong lòng chung c? để hấp dẫn ng?ời ở.

 

Giai đoạn thứ ba là mở rộng ra khỏi phạm vi căn hộ tức là quan tâm đến phía ngoài (outside), cảnh quan, môi tr?ờng xung quanh tạo ra sự hài hoà, hấp dẫn giữa con ng?ời với môi tr?ờng tự nhiên. Đó là cây xanh, t?ợng đài, không gian th? giãn, đài phun n?ớc, ánh sáng, công viên và các dịch vụ kèm theo.

 

Giai đoạn thứ t? là cố gắng từng b?ớc tạo ra sự liên kết xã hội (social network) tức là làm sao cho mọi ng?ời thấy chung c? không phải chỉ là chỗ ở thuần tuý mà còn là nơi thân thuộc, mối quan hệ làng xóm trở nên gắn bó, tính cộng đồng đ?ợc đề cao, giảm bớt sự thờ ơ lạnh lùng trong quan hệ xã hội.

 

Chúng ta có thể diễn tả quá trình này nh? sau về mặt vật chất:

Chung c? bình dân -> chung c? khá với thiết bị t?ơng đối hiện đại -> chung c? hiện đại cao cấp, hiện đại hài hòa giữa vật chất và môi tr?ờng cảnh quan -> chung c? thân thuộc, gắn bó mang tính cộng đồng cao.

Chúng ta có thể diễn tả quá trình này nh? sau về mặt tinh thần:  Chấp nhận c?ỡng bức -> chấp nhận -> thích -> hấp dẫn, mong muốn cao.

 

10 - Đảm bảo tính pháp lý tạo tâm lý an tâm khi sở hữu không gian tầng cao

Một điều rất quan trọng cần đ?ợc đề cập đến là quyền sở hữu nhà chung c?. Ng?ời Việt Nam vốn dĩ có gốc gác nông dân mà ng?ời nông dân thích đất đai và làm chủ sở hữu đất đai. Do vậy, việc sở hữu một không gian trên cao không phải là thói quen và ý muốn. Nhiều ng?ời cảm thấy không an tâm khi sở hữu nơi mà họ gọi là “không khí”. Một thời gian dài không có chủ tr?ơng cấp chủ quyền nhà cho căn hộ chung c?, nhất là diện nhà tái định c?. Các cấp chính quyền sợ là cấp chủ quyền họ sẽ bán cho nên không có chủ tr?ơng cấp sổ đỏ. Điều này khiến cho nhiều ng?ời dân càng không an tâm ở chung c? lâu dài, họ nhanh chóng sang tay để đi nơi khác. Do vậy, việc nhanh chóng đảm bảo tính pháp lý và cam kết giá trị bất động sản cho ng?ời dân ở chung c? là điều cần thiết.

 

Những phát hiện trên đây không mới, chỉ là sự nhắc lại để góp thêm tiếng nói cho việc hoạch định chính sách phát triển nhà ở tại các TP lớn của Việt Nam.

 

* Bài tham luận tại Diễn đàn: “Kiến trúc cao tầng - Xu h?ớng phát triển đô thị tại TP. HCM”

 

*Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Minh Hòa. Chủ nhiệm đề tài nhánh “Khảo sát về nhà ở và không gian công cộng” thuộc đề tài cấp thành phố “ Những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc qui hoạch và kiến trúc TP. HCM”, Chủ nhiệm KTS. L?u Trọng Hải. 2001.

2. Nguyễn Minh Hòa. Nghiên cứu và khảo sát xã hội học về các loại hình nhà ở tại TP. HCM: Lịch sử  Hiện trạng và Khuynh h?ớng. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ. 1999.

3. Nguyễn Minh Hòa. Nghiên cứu vai trò của các tổ chức xã hội trong việc tạo dựng quĩ nhà ở cho ng?ời thu nhập thấp tại TP. Metro Manila, Philippines. Đề tài nghiên cứu của quĩ học gia Châu á thực hiện tại Philippines. 2001-2002.

4. Nguyễn Minh Hòa. Chủ nhiệm đề tài nhánh “Nghiên cứu về cơ cấu ở, nhu cầu ở và khả năng đáp ứng thực tế của TP. HCM làm cơ sở cho định h?ớng kiến trúc  thuộc ch?ơng trình nghiên cứu trọng điểm cấp thành phố “Định h?ớng kiến trúc cho TP. HCM”, Chủ nhiệm ch?ơng trình KTS. L?u Trọng Hải.

5. Nguyễn Minh Hòa. Đề tài nghiên cứu cấp trọng điểm của Đại học quốc gia “Nghiên cứu và khảo sát phố chuyên doanh của đô thị Việt Nam”. 2004-2005.

6. Trung tâm nghiên cứu phát triển Đô thị và Cộng đồng. Văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị. NXB Đại học Quốc gia TP. HCM 2004.

7.  Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và Cộng đồng. Những vấn đề của phát triển không gian đô thị. NXB Đại học Quốc gia TP. HCM 2005.

8. Trung tâm nghiên cứu phát triển Đô thị và Cộng đồng. Ngập lụt và nhà ở tại các đô thị Châu á - Kinh nghiệm cho TP. HCM. NXB Tổng hợp TP. HCM, 2006.


Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Thiết kế web: V&A | © Bản quyền TPTA 2005 - 2012 | Contact TPTA